VĨNH BIỆT NHÀ GIÁO TRƯƠNG THAM

NGUT TRƯƠNG THAM

Tôi không dùng danh hiệu “nhà giáo ưu tú” như bảng cáo phó mà chỉ gọi “nhà giáo” đã đủ thân thương và kính trọng một người Thầy giáo đúng nghĩa. Mọi danh hiệu được hội đồng này nọ trao cho ai trong thời buổi này đều chẳng danh giá gì so với danh hiệu truyền thống mà nhân dân đã trao cho. Hẳn nhiên, cái buổi đầu trao danh hiệu nhà giáo ưu tú cho Thầy còn trong sáng lắm, nên một người không quyền không chức, chỉ nhà giáo thuần túy như Thầy lại được trao tặng thật là sáng giá. Còn sau này, xin lỗi, toàn bọn quan chức, thành tích kê khai là thành tích ảo, các thủ tục bỏ phiếu thăm dò lại làm chui, kiểm phiếu đểu, cho nên, tháng trước phong nhà giáo ưu tú, ít tháng sau trở thành tội phạm!

Một người như Thầy Trương Tham đã là nhà giáo nhân dân đúng nghĩa, không cần hội đồng nào. Một người Thầy cho đến hơi thở cuối cùng vẫn gắn liền với nghề, đã từng đào tạo bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu học trò giỏi giang, kể cả những người nổi tiếng. Cuộc đời đã chọn cho Thầy cuộc sống cô đơn, nhưng cũng vì thế, lúc lâm chung, hơn một tháng trời nằm viện cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng, mới thấy Thầy không hề cô đơn. Nhà thơ nổi tiếng Trần Mạnh Hảo, học trò của Thầy từ thuở còn ở Nam Định, hàng năm lúc Thầy còn sống thường xuyên về thăm Thầy, nay không về được, chỉ còn biết nghẹn ngào nấc lên và gửi mấy dòng thơ điếu tang thay lời vĩnh biệt Thầy. Các nhà giáo Trần Thanh Bình, Trần Hà Nam, Đỗ Kim Hảo… được Thầy dạy dỗ cưu mang ngày đêm túc trực bên Thầy, chăm sóc, lo toan hậu sự cho Thầy như cha. Và cảm động thật sự khi biết có người phụ huynh (hình như tên chị là Thu thì phải) đã thay con mình chăm sóc Thầy suốt thời gian nằm viện. Tiễn đưa Thầy có đến cả ngàn học trò các thế hệ và đồng nghiệp.

Thầy có cả một đại gia đình, Thầy sống mãi trong lòng mọi người!

Trong lúc nghề giáo bị khinh bỉ vì thế sự ngửa nghiêng, lòng người bạc bẽo, phải một tâm hồn lớn lao, một nhân cách vững chãi như Thầy mới được hậu đãi như thế.

Tôi không phải học trò của Thầy Trương Tham. Tôi nghe tiếng Thầy từ thuở còn là học sinh trường huyện, cái thuở ngoài sách giáo khoa, bọn học trò trường huyện chúng tôi không biết đọc gì khác. Lên tỉnh chộp được một bài bình văn của Thầy, tôi đọc ngấu nghiến, như thể trẻ đói gặp bữa cỗ ngon.

Cho đến bây giờ tôi vẫn ganh tị với những người đã được học Thầy. Lúc khâm liệm Thầy tại nhà tang lễ, tôi bị mặc cảm sao không là Trần Hà Nam, Trần Thanh Bình, Đỗ Kim Hảo… để được để tang Thầy!

Tôi quen Thầy khi đi thực tập và kết bạn vong niên trong thời gian cùng Thầy dạy ôn thi tại trung tâm và gắn bó hơn khi Thầy động viên, trợ giúp tinh thần trong vụ việc chống tiêu cực tại Trường Đại học Quy Nhơn. Thầy yêu ghét rạch ròi, thậm chí cực đoan, nên lắm bạn và cũng nhiều thù. Tôi kính trọng và cảm thấy gần gũi vì đức tính ấy. Một đời Thầy không mộng công danh, quyền lực, chỉ mộng làm cho đời tốt hơn, đẹp hơn. Một lần ăn sáng với tôi, Thầy tỏ ra bực bội, mà lại ngay với cả học trò yêu quý của Thầy: “Thằng Hảo (Đỗ Kim Hảo) dạo này hư lắm mầy ơi, nó không lo chuyên môn mà đi tranh chấp chức hiệu phó với con…”. Tôi cười: “Làm hiệu phó tốt cũng là làm chuyên môn tốt chứ Thầy”. Thầy bĩu môi: “Làm quan làm sao tốt được mầy”. Gần đây, Thầy đem chuyện tranh chấp ngoài Hội Văn nghệ ra để chứng minh điều Thầy nói: “Chúng nó đều là học trò của tao cả, chỉ vì có đứa dùng văn thơ làm phương tiện để thăng quan mà sinh ra chuyện đau lòng này”.

Bây giờ Thầy đã ra đi. Chuyện tốt xấu, yêu ghét đã bị xóa tan trong cõi hư vô. Nhìn đám tang của Thầy đông đảo, đủ các thành phần mới thấy tình người mới là cái còn lại của thế gian này!

Một lần nữa xin được nghiêng mình kính cẩn tiễn đưa Thầy về miền Cực lạc!
CHU MỘNG LONG
(http://chumonglong.wordpress.com/2012/04/26/vinh-bi%E1%BB%87t-nha-giao-tr%C6%B0%C6%A1ng-tham/)

Advertisements

CẦN TRẢ LẠI ĐÚNG TÊN TÁC GIẢ BÓNG GIAI NHÂN CHO NHÀ THƠ YẾN LAN

SỰ THẬT VỀ TÁC GIẢ CỦA VỞ KỊCH THƠ BÓNG GIAI NHÂN?

LÂM BÍCH THỦY sưu tầm và giới thiệu

Vừa rồi, về thăm mẹ già đã 94 tuổi – vợ của cố thi sĩ Yến Lan, tôi nghe cô em nói là vô tình bật Ti vi kênh VTV1 thì nghe được cuộc nói chuyện về nhà thơ Nguyễn Bính nhân ngày sinh hay ngày mất gì đó. Hôm ấy ông nhà văn ca ngợi công lao của nhà thơ Nguyễn Bính đối với nền Văn học Việt Nam. Chính vì vô tình nên nghe được ông nhà văn có nhắc đến vở kịch thơ Bóng giai nhân- Phần tác giả chỉ nhắc đến Nguyễn Bính.

Về việc này, khi con sống nhà thơ Yến Lan cũng có lần vô tình đọc được trên báo mà buồn cho phận mình. Khi đó, viết thư cho bạn cũ là nhà nghiên cứu Văn Học Đinh Tấn Dung-Khổng Đức:

“ Nhân nhắc đến “Bóng Giai Nhân” tự nhiên đối với anh, tôi không thể không nói. Hôm qua tôi đã viết cho Chế Lan Viên cả một bức thư dài về câu chuyện có liên quan. Nó là như thế này:

   Tình cờ tôi đọc trên số báo Nhân Dân ra ngày Chủ nhật 28/2/1988 – ở hàng cột cuối trang 4 có ghi một tin ngắn dưới cái titre: Xuất bản tác phẩm của Nguyễn Bính, có ghi , đại khái như sau : Để kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Nguyễn Bính, Sở Văn hóa và Hội Văn nghệ Hà Nam Ninh đã xuất bản… sẽ tiếp tục in những vở kịch thơ của Nguyễn Bính 

Điều này làm tôi tự nhiên bỗng nghĩ đến những cái không may thường xảy đến trong đời làm thơ của bản thân, khi nhớ đến đoạn tiểu sử về Nguyễn Bính và chỗ giới thiệu tác giả chính in lên trên lời tựa của Tô Hoài mở đầu “Tuyển tập thơ Nguyễn Bính” (do Nhà xuất bản Văn hóa và Nhà Xuất bản Long An tái bản năm 1986)

Ở đoạn tiểu sử ghi: Vở kịch “Bóng Giai Nhân” Nguyễn Bính soạn theo phác thảo ban đầu của Yến Lan (1942)… Ở phần tác phẩm chính ghi chỉ một tên Nguyễn Bính.

  Trong việc sáng tác một tác phẩm, cái phác thảo ban đầu quyết định được gì trong việc hoàn thành tác phẩm ấy? Mà sao lại dám khẳng định ở ngay “tuyển tập”– một công trình dù thế nào đi nữa– vẫn cứ được mặc nhiên dành được ưu thế thuyết phục, thiếu gì kẻ lười nhác trong việc sưu tầm và giới thiệu tiếp sau, sẽ vin vào đó làm căn cứ tối hậu tổng kết. Tôi chưa rõ ngoài “Bóng Giai Nhân”, Nguyễn Bính có viết “được” và “nêu” một vở kịch thơ nào khác nữa không? Vậy thì nay mai các nhà xuất bản trên kia in nó ra– tôi nghĩ còn có mục đích khác quan trọng nữa là lợi nhuận – vì sách sẽ chạy – thì các quyền lợi của tôi bị tước bỏ. Ngay cả quyền lợi thiêng liêng là cái danh nghĩa chính đáng làm tác giả. Từ trước đến nay “Bóng Giai Nhân” đã phải mang tên hai tác giả (là do lúc viết – ra ở Huế, tôi và Nguyễn Bính ở chung một nhà, cả Vũ Trọng Can) – để cho đủ tên 2 nhà thơ để cho hấp dẫn – Giá lúc ấy Vũ Trọng Can lại là nhà thơ nữa thì có khi có cả tên vào đó. Nhiều tài liệu đã nêu, như Từ điển Văn học  tập II của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Lịch sử kịch nói Việt Nam (trước cách mạng) Nhà xuất bản Văn học do Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý (1978) – và nhiều tác phẩm, tiểu luận khác. Ngay hiện nay ở nhà, tôi vẫn còn giữ một tập đánh máy từ ngày viết xong để trình kiểm duyệt và rã cả vai– có đề tên cả 2 người  tập ấy tôi gửi một bạn gái rất thân ở Hà Tiên nhân khi sắp diễn, và nhắn chị ấy chuyển cho anh Đông Hồ và chị Mộng Tuyết đọc. Sau này định diễn ở Thanh Hóa, tôi gửi thư vào mượn lại. Về Bình Định mang theo rồi gửi anh Quách Tấn giữ cho đến khi giải phóng trở về.

 Tôi đang có một dự định nhằm làm cho sáng tỏ – Báo cho các nhà xuất bản trên cần lưu ý vấn đề này.

 -Viết nhờ Báo Văn nghệ đăng mấy dòng cải chính, và báo cho Hội Nhà văn–Nhưng chỉ sợ họ cho là “đã có lửa đâu mà lo cháy” –Yến Lan chỉ xông khói lên thôi. Có thể lắm chứ.

 -Viết một hồi ký về Huế (trong ấy xoay quanh những sự việc và xúc cảm về “Bóng Giai Nhân”, nhân đó mà nói rõ sự thật. Năm ngoái, Biên tập Sông Hương có mời tôi tham gia, giờ mà có bài thì họ đăng thôi. Và tôi đã viết một hồi ký gần 6.000 chữ. Mấy hôm nay đánh vật với nó và đọc lại thì cần điều chỉnh lại cho tế nhị, dịu dàng hơn. Thế là hiện giờ thì đang treo mà tôi đã mệt…”

 

Nghĩ mà thương cha mình, người luôn đi trước mà vẫn bị tụt lại sau. Tôi đành mượn bài viết của nhà thơ Hoàng Cầm sau đây, nhờ anh Nguyễn Trọng Tạo giới thiệu cùng bạn đọc biết sự thật về tác phẩm này. Mong rằng lịch sử sẽ phán xét và trả về cho cha tôi cái quyền của tác giả đã sinh ra vở kịch thơ Bóng Giai nhân

.

Ai là tác giả của vở kịch thơ Bóng giai nhân

Hoàng Cầm

“Trong lịch sử văn học và nghệ thuật của loài người, ngay từ những thế kỷ đầu trước và sau Công Nguyên, hầu như ở dân tộc nào cũng đôi khi xảy ra vài ba chuyện nhầm lẫn ở bộ môn này, bộ  môn khác  mà về sau các nhà làm văn hóa sử thường vấp phải những điều khó bình luận, khó phân giải. Rồi họ thấy tiếc, tiếc rằng đã không biết rõ sự thật về một bức tranh, một bài thơ, một câu chuyện kể, càng tiếc hơn khi không biết thật đúng về đời sống và tác phẩm của một thi hảo, một danh họa nào đó. Ở ta chỉ mới vài trăm năm , trường hợp Hồ Xuân Hương là một ví dụ

Đến thời đại chúng ta, nếu những người đương thời với một số văn nghệ sĩ lại làm ngơ trước một vài sự thật bị nhầm lẫn (trong khi mọi mặt thong tin đã có nhiều điều kiện khoa học tân tiến để xác minh bất cứ một vấn đề to nhỏ nào trong đời sống v8n hóa của một dân tộc, một đất nước, thì tôi nghĩ đấy có thể trở thành một tội lỗi đối với những thế hệ mai sau. Vì bản chất loài người là luôn luôn khao khát được biết, được hiểu những sự thật lịch sử của riêng từng dân tộc.

***

Từ cuối năm 1939, tôi đã đi vào cái nghiệp văn chương và bắt đầu xa gia đình ở tỉnh lẻ Bắc Giang, ra Hà Nội sống và làm việc cho Nhà Xuất Bản Tân Dân. Cuối năm 1941, tôi được xem vở kịch thơ đầu tiên trên sân khấu Nhà Hát Lớn Hà Nội, do anh Chu Ngọc dàn dựng, anh Vũ Trọng Can tổ chức các đêm diễn. Đó là vở kịch thơ có cái tên khá hấp dẫn: Bóng giai nhân.

Tờ chương trình in ảnh người đạo diễn với ba vai sắm ba nhân vật của kịch bản, lại là tên bat thi sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ : Vũ Hoàng Chương, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính. Còn tác giả vở kịch thơ in chữ đậm trên tờ chương trình, đồng thời kẻ chữ to cũng rất đậm trên áp phích to bằng cái chiếu đặt ở cửa ra vào Nhà Hát Lớn:

Bóng giai nhân – kịch thơ của Yến Lan  và Nguyễn Bính…

Với Nguyễn Bính, tôi cũng đã làm bạn được hơn một năm, nhưng hồi đó, tôi như đứa bé mon men ở ngưỡng cửa làng văn, mới có vài ba truyện ngắn, vài ba bài thơ ngăn ngắn đăng trên Tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Bảy của Nhà Xuất Bản Tân Dân do nhà viết kịch Vũ Đình Long làm chủ, nên đối với các bậc đàn anh đã nổi tiếng như Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, TRần Huyền Trân hơn mình về cả tuổi đời và tuổi nghề tôi coi như cậy cao bong cả, con mình chỉ là một cây non mới trồng ở cái vườn văn bao la, đầy bí ẩn này.

Dạo ấy, cái tên một thi sĩ nghe như tên con gái – Yến Lan, chưa quen thuộc với dân Miền Bắc. dân Hà Nội. Ngược lại chỉ nhắc đến Nguyễn Bính là người ta đọc vanh vách ngay những bài thơ nổi tiếng: Lỡ bước sang ngang, Xóm Ngự Viên  hay là Chân quê, Quan Trạng.

Riêng tôi cũng chỉ biết Yến Lan nhờ ông Hoài Thanh với cuốn Thi NHân Việt Nam, còn trong số độc giả yêu thơ cũng nhiều người không biết “Bến My Lăng và tác giả của nó là ai.

Sau hai buổi diễn Bóng giai nhân ở Hà Nội, kết quả cũng bình thường, vì anh Chu Ngọc chưa tìm ra phong cách diễn kịch thơ thế nào để cuốn hút khan giả, đến lượt chúng tôi, một nhóm an hem mê chơi sân khấu bên Kinh Bắc gồm Hoàng Tích Sinh, Hoàng Tích Chù, Kim Lân, Trần Hoạt và tôi bèn mượn kịch bản Bóng giai nhân của anh Vũ Trọng Can đem về làng Phù Lưu, quê cùa các anh Linh, Chù, Kim Lân để diễn tập. Tôi rủ anh Nguyễn Bính về chơi. Trong bữa rượu đầu tiên, quanh mâm thịt chó cực ngon do vợ anh Chù chiêu đãi, tôi mạnh bạo hỏi vị “thượng khách, tân khách” Nguyễn Bính:

–       Bính viết Bóng giai nhân từ bao giờ?

Sau một tợp rượu rất hào sảng người thi sĩ chân quê bèn kể:

Năm 1938, ba thằng chúng tớ là Trần Huyền Trân, Bính và Yến Lan ngứa ngáy cái máu giang hồ, rủ nhau vào chơi Sông Hương, núi Ngự. Yến Lan thì từ Qui Nhơn ra “hội ẩm”chỉ mới được ba ngày thì sắp cạn tiền, mình mới tính cái nước viết kịch rồi diễn luôn ở ngay cố đô này. Dạo ấy thằng Vũ Trọng Can cũng ở Huế, nó cũng mê sân khấu, lại có tài tháo vát, xoay sở có thể tổ chức các đêm diễn ra trò lắm. Bàn tán một lúc thì thằng Trân nghĩ ra cái cốt truyện, nghe đâu như truyện thời Xuân Thu chiến Quốc bên Tàu, cũng khá mê ly!.. Có anh thợ đúc gươm một đêm nằm mơ thấy ai như thần nhân mách rằng “Từ nước Sở sẽ có một chàng hiệp sĩ đi tìm mua gươm báu để dẹp loạn khắp thiên hạ, đem lại thanh bình cho bốn phương, trăm họ đang đói khát, lầm than, nhà ngươi phải đúc một thanh gươm được thiêng, phải lấy máu hai đứa con trai nhà ngươi mà tôi luyện, và người tráng sĩ mua được gươm rồi, phải giết ba người gặp đầu tiên trên con đường đi lập công vỗ yên bốn cõi. Có như vậy mới thành gươm thần, diệt được hết bọn tà ma quỉ, quái đang làm khổ thiên hạ hàng nghìn vạn năm rồi”            

Khi người thợ đúc gươm tỉnh dậy thì quả nhiên, có một tráng sĩ tự xưng là người nước Sở đến hỏi mua gươm quí. Sau khi xem thử đến ba bốn loại gươm

mà cũng là cách người thợ đúc gươm muốn thử cái chí và cái tâm tráng sĩ, chàng kiếm khach giang hồ kia có vẻ thất vọng. Đến lúc ấy thì người thợ kia mới đưa ra thanh kiếm thần. Người tráng sĩ thật vừa ý, đẹp lòng đón nhận gươm quí rồi cáo biệt ân nhân, lên đường. Vì chót quên lời dặn cuối cùng của thần linh, người bán gươm bèn gọi người tráng sĩ trở lại:

Người bán gươm : 
Tráng sĩ! Lời thần mộng tôi quên chưa nói hết
Một khi kiếm đã vào tay dũng kiệt
Muốn cho thiêng chàng phải giết ba người   

   Tráng sĩ:
Ba người gặp đầu tiên, khi bảo kiếm
Đã nằm trong tay chàng, sẽ vô cùng màu nhiệm
Nếu chàng có gan giết đủ cả ba người…

Nhưng thật oái ăm kịch tính khủng khiếp xuất hiện ngay, người thứ nhất mà tráng sĩ gặp khi thanh gươm đã vào tay chàng, chẳng phải ai đâu mà đích thực lại là người bán gươm cùng vì đại nghĩa vui lòng cho thanh gươm do chính tay mình làm ra hòa với máu hai đứa con trai, chính gươm báu ấy đâm vào trái tim mình. Người thứ hai là một đạo sĩ đang tu tiên, đang nhàn du nơi ven rừng chân núi. Đạo sĩ cũng vui lòng chịu chết với một nụ cười khinh bỉ con đường công danh của tráng sĩ mà nhà tu hành coi là ô trọc. Cuối cùng, đến người thứ ba thì kịch tính lên đến mức cao nhất. Đó là mỹ nữ, một tuyệt thế giai nhân. Giết hay không? Theo đuổi một vinh quang cao cả hay theo người đẹp về xây tổ uyên ương” bên bờ suối. Một cuộc đấu tranh thật kỳ thú giữa ái tình và danh vọng

Lại tợp đến ngụm rượu thứ bao nhiêu, Bính không nhớ nữa, anh gắp một miếng dồi chó đưa lên miệng còn lử lơ chưa muốn nhai đã nói dõng dạc:

– Yến lan nó viết cả ba màn, đến màn cuối này thì lời thơ của nó – vừa hào hùng lại vừa tình tứ, nghe đọc thôi cũng đã sướng tai rồi. Cái hơi thở lãng mạn lồng vào cái khí thơ bi hùng ca cũng khá nhuần nhị- tớ đọc xong còn nói đùa :

– Thôi hay lắm rồi để tao thay mặt phòng kiểm duyệt của thằng Tây phê cho

một chữ được! và thêm cho ba chữ son nữa: Cho phép diễn!  rồi Bính cười vang.

Từ sau đó, nhóm kịch Bắc Ninh của chúng tôi dàn dựng, luyện tập mất cả hai ngày là diễn luôn ở đình làng Phù Lưu cùng với vở hài kịch “Cái tủ chè” của Vũ Trọng Can thành một đêm sân khấu đặc sắc. Đến nay, qua năm 2000 rồi, lơ phơ còn mấy cụ già trên 80 tuổi ở các làng chúng tôi trình diễn Bóng giai nhân

 từ 1942 đến 1947 là còn nhớ ba vai chính của vở kịch (như ở các làng Phù Lưu, Đình Bảng, Đồng Kỵ thuộc huyện Từ Sơn, làng Lạc Thổ, Đạo Tú, Đình Tổ huyện Thuận Thành, các huyện bên Tả Ngạn và Hữu Ngạn Sông Đuóng) nhiều cụ còn nhớ diễn viên nào sắm vai nào, có cụ còn thuộc và đọc vanh vách một vài câu thơ có vẻ giang hồ khí phách của kịch bản nữa.

Riêng tôi sắm vai tráng sĩ mua gươm, xuất hiện ở các sân khấu từ Nhà Hát Lớn Hà Nội, tính được ít nhất cũng đến năm sáu chục buổi diễn rất thành công, vì tôi may mắn được trời phú cho một giọng ngâm thơ có thể khiến khán giả mến mộ như mến mộ những ca sĩ loại nhất hiện nay. Việc trình diễn Bóng giai nhân của nhóm kịch Bắc Ninh của chúng tôi còn kéo dài đến giữa năm 1948, ở nhiều thôn làng hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, những nơi mà khói lửa của cuộc chiến tranh Việt Pháp chưa bén tới.

***

Đến đây tôi đã có thể chấm dứt bài viết để khẳng định một cách rất đanh thép rằng: tác giả đích thực của vở kịch thơ Bóng giai nhân  là Yến Lan. Việc xây dựng cốt truyện là của hai anh Trần Huyền Trân và Yến Lan. Còn Nguyễn Bính chỉ là người sắm vai anh thợ đúc gươm lần thứ nhất trên sân khấu Huế rồi đến khi Vũ Trọng Can đưa kịch bản cho đạo diễn Chu Ngọc dàn dựng và đem trình diễn ở Nhà Hát Lớn ở Hà Nội, Nguyễn Bính vẫn sắm vai kịch ấy cùng với Vũ Hoàng Chương (vai tráng sĩ) và Trần Huyền Trân vai đạo sĩ.  Chỉ có một điều cần chú ý là khi vở diễn đưa ra Hà Nội thì trong tờ chương trình in bốn trang phát cho khán giả, tên tác giả có đề thêm Nguyễn Bính.. SAu đêm xem diễn ở Hà Nội, tôi hỏi về vấn đề tác giả kịch bản thì anh Chu Ngọc mà tôi cũng quen thân từ lâu, nói : “Ở Hà Nội, cái tên Yến Lan còn xa lạ với khán giả, nên theo ý Vũ Trọng Can mình thêm cái tên Nguyễn Bính vào, cốt để bán được nhiều vé. Vì Nguyễn Bính rất nổi tiếng ở cả ba miền, Yến Lan nếu có biết chuyện thêm tên tác giả chắc anh ấy cũng thuận tình, vì cùng là bạn thơ nghèo với nhau

Tôi không có ý định đi sâu vào nghệ thuật thơ của hai thi sĩ tài danh ấy. Nhưng một nhà phê bình văn học nào đó, chỉ cần đọc qua những lời thơ trong kịch BGN

đã có thể nhận ra phong cách thơ ở đó khác hẳn phong cách Nguyễn Bính. Vậy nên từ đêm diễn BGN đầu tiên cho đến giữa năm 1948 mới chấm dứt, tôi sắm vai tráng sĩ hàng năm sáu chục lần, càng tin rằng Nguyễn Bính không phải là tác giả. Rõ ràng cái văn phong trong kịch bản là văn phong của nhóm thi sĩ Bình Định hồi bấy giờ.

Mãi đến năm 1954 tôi mới biết mặt Yến Lan và hai người nhanh chóng kết thành bạn thân. Hiểu nhau rồi mới dám gạn hỏi anh sự thật về việc sáng tác vở kịch thơ BGN. Anh thuật lại cũng đúng như lời Nguyễn Bính đã kể cho nhóm kịch Bắc Ninh trong bữa rượu thịt chó ở nhà anh Hoàng Tích Linh. Tôi có yêu cầu Yến Lan viết bài nói rõ về gốc gác vở kịch ấy, nhưng anh Yến Lan đã gạt đi với hai ý kiến như sau:

Một là, theo tác giả thì vở BGN cũng không phải là một tác phẩm xuất sắc gì, nó đã nằm trong sự lãng quên, bây giờ (1955) tự dưng bới nó ra, sợ người ta chê cười là tranh nhau tên tuổi.

Hai là, Văn nghệ bây giờ (1955) đi theo hướng vô sản, những chuyện giai nhân, giai nhiếc, tráng sĩ, hiệp khách, hiệp khứa cổ lỗ sĩ mà bây giờ đưa ra công chúng chắc chắn sẽ bị phê phán là văn chương tư sản, lãng mạn, không hữu ích gì…Hơn nữa những tác phẩm như Bóng giai nhân thì còn bao giờ in lại, diễn lại được!  Tốt hơn hết là quên nó đi!

Ấy vậy mà đến năm 1994, Hội nghệ sĩ sân khấu lại cho sưu tập và xuất bản một tuyển kịch thơ gồm các tác giả Thế Lữ, Phạm Huy Thông, Hoàng Cầm, Thao Thao, Nguyễn Bính và Yến Lan, Vũ Hoàng Chương, Phạm Khắc Khoan, Lưu Quang Thuận… Năm ấy anh Yến Lan còn sống, đã về ở quê bình Định.

Trước khi Hội nghệ sĩ sân khấu ấn hành tuyển tập ấy (dĩ nhiên là có mặt vở Bóng giai nhân trong cuốn sách). Tôi, vì tôn trọng sự thật lịch sử trong nền văn học của ta, đã viết một bài đăng trên báo Văn Nghệ với đề mục “Đính chính những sai lầm trong văn nghệ, tôi đã nói rõ tác giả BGN là ai rồi” Tôi lại giới thiệu cho anh Lâm Huy Nhuận – con trai thi sĩ Yến Lan đến gặp anh Hồ Ngọc, người sưu tập, giới thiệu tuyển tập kịch thơ Việt Nam, để yêu cầu anh Hồ Ngọc đính chính tên tác giả cho đúng với sự thật dựa vào bài viết của tôi trên báo VN. Anh Hồ Ngọc đáp lại yêu cầu của anh Lâm Huy Nhuận rằng:

Tôi cũng tin là anh Hoàng Cầm nói không sai về vấn đề tác giả Bóng giai nhân  nhưng từ lâu anh chị em trong giới sân khấu, cả trong Hội nhà văn nữa đã đinh ninh rằng vở kịch ấy do hai tác giả Yến Lan và Nguyễn Bính. Bây giờ tôi biên soạn lại tự dưng cắt bỏ Nguyễn Bính ra thì sẽ gây nên nhiều dư luận chẳng hay ho gì. Thôi, từ trước tới nay trong dư luận công chúng, vở kịch ấy đã thế rồi thì cứ giữ nguyên nó là thế. Đính chính là không cần thiết, không có lợi gì cho văn học và sân khấu, có khi là có hại đến thanh danh cả hai tác giả.

Thôi thì cũng đành vậy…Ở Bình Định tác giả Yến Lan có được thấy cuốn sách đó chắc cũng chỉ mỉm cười vui vẻ. Nói thế vì tôi biết Yến Lan chẳng thích nổi tiếng nổi tăm; trước anh tưởng BGN chẳng bao giờ in ra được, mà đấy nó đã xuất hiện và dạo chơi khắp nước, không mỉm cười vui vẻ sao được?

Mà đến lượt tôi cũng đành chịu, không đính chính gì được nữa, nhưng thôi vẫn còn tên tác giả Yến Lan hiện diện ngoài bìa sách và tình cảm tư tưởng anh vẫn sống động trên từng trang giấy thơm tho.

Nhưng đến điều tôi sắp nói sau đây không thể chấp nhận nổi mà chắc chắn các anh chị em cao tuổi ở Hội Văn Học hiện nay cũng không thể chấp nhận nổi!

Cuối tháng tư năm nay (2001) chị Nguyễn Thị Lan vợ anh Yến Lan đã 82 tuổi, vẫn khỏe mạnh ra Hà Nội thăm con cháu, có đến tìm tôi và “mách” rồi đưa cho tôi xem lá thư của Yến Lan viết cho một người bạn cũ .

…và hẳn là hồn thi sĩ chân quê phải hiện thành xương thịt, nói dằn từng tiếng dõng dạc cho mọi người từ Nam ra Bắc nghe:

“Hồng cầu! con tìm cách cải chính ngay đi: rằng bố đây, Nguyễn Bính, không phải là tác giả kịch thơ Bóng Giai Nhân đâu!”  Rồi đây lại quay về cõi vĩnh hằng , chắc rồi ông lại viết ở âm phủ nhiều câu về thế sự, ông đã viết nhiều câu thơ cay đắng hoặc chua chát về thế thái nhân tình về thói đời trên dương giang vốn lắm sự bất bình nhất là ở cõi văn chương vốn thanh cao thuần khiết thì bây giờ từng đám bụi thị trường ô hợp đang nối tiếp nhau bám đầy lên những trang sách quí…kể cả từ nghìn năm xưa…

                                                                        Hà Nội tháng 5 năm 2001
Hoàng Cầm 

 

Tôi nghĩ, ngoài cái hồi ký ấy, giá có một nhà nghiên cứu nào viết theo chủ đề: đại khái như: Nhân cái tiểu sử ở đầu một tuyển tập, nghĩ đến trách nhiệm và tính chính xác, chính chân thật của việc nghiên cứu và giới thiệu.

Anh nghĩ “Bóng Giai Nhân” có thể là một vụ án Văn học không? Theo tôi thì có, nhưng già rồi, lực tận thế cô cũng đến bỏ cuộc thôi.

Thư viết lung tung, bút xấu mực nhạt, xin anh thông cảm. Chúc gia quyến anh vạn sự tốt lành.

Nay, ký tên

Đấy, đâu phải ba tôi không muốn mọi người hiểu được sự thật. Nhưng vấn đề này sao có vẻ khó khăn quá. Nghe đâu, Lâm Huy Nhuận, em trai tôi cũng đã có đặt vấn đề này với Hội Nhà Văn thì được trả lời “Thôi lịch sử văn học thế nào cứ để như thế”

(Nguồn: http://nhathonguyentrongtao.wordpress.com)

Vĩnh biệt NSƯT Hoài Ân

Vọng mãi tiếng kèn, tiếng nhị

19:33′, 8/3/ 2012 (GMT+7)

Nếu tiếng kèn, tiếng nhị của Lưu Hạnh mô phạm, quy tắc, bài bản; Văn Bá Anh có nhiều “ngón độc”, thì ở cố nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Nguyễn Hoài Ân là sự mướt mát, bay bổng thông qua sự kết hợp uyển chuyển các thủ pháp luyến, láy, vuốt, vỗ, nhấn, rung, làm cho âm nhạc tuồng ngoài tính chất chủ đạo là bi – hùng còn rõ thêm chất trữ tình của dân nhạc…

NSƯT Nguyễn Hoài Ân – nghệ danh Tám Kèn – sinh năm 1924, quê quán thôn Thanh Giang, xã Nhơn Phong, huyện An Nhơn. Lúc nhỏ, vì mê nghệ thuật, ông đã theo học và trở thành nhạc công kèn, nhị trong các gánh hát làng quê. Năm 21 tuổi, ông gia nhập quân ngũ, công tác, chiến đấu ở các đơn vị rồi tập kết ra Bắc. Năm 1959, ông được điều về Nông trường 1.5 (thuộc Trung đoàn 93, Sư đoàn 324) làm nhiệm vụ sản xuất và văn công bán chuyên nghiệp của đơn vị.

Tài nghệ nhạc công của Tám Kèn được nhiều đồng nghiệp cũ biết đến. Tháng 6.1960, ông được thu nhận về Đoàn Tuồng Liên khu V. Năm 1962, Đoàn Tuồng Liên khu V và Đoàn Tuồng Bắc Trung ương hợp nhất thành Nhà hát Tuồng Việt Nam (đóng tại Khu văn công Mai Dịch, Hà Nội), tiếng kèn, tiếng nhị của ông lại hòa vang cùng các nhạc công khác của Đoàn đi biểu diễn phục vụ hầu hết các địa bàn ở miền Bắc và tuyến lửa khu IV.

Năm 1973, nghệ sĩ Nguyễn Hoài Ân được Vụ Nghệ thuật điều về tăng cường cho dàn nhạc Đoàn Dân ca kịch Liên khu V (cùng ở Khu văn công Mai Dịch). Lúc ấy, lớp nghệ sĩ trẻ chúng tôi mới biết ông còn là nhạc công thông thạo đờn nhạc dân ca bài chòi. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông cùng Đoàn Dân ca kịch Liên khu V vào Bình Thuận đứng chân, tiếp tục hoạt động nghệ thuật; sau đó, được mời về làm nhạc công cho Nhà hát Tuồng Nghĩa Bình – Nhà hát Tuồng Đào Tấn. Tiếng kèn, tiếng nhị điệu nghệ của ông một lần nữa trở về phục vụ sự nghiệp nghệ thuật truyền thống trên quê hương mình.

Là người có tác phong “quân sự”: nghiêm túc, thẳng thắn, dứt khoát, cứng rắn, năng nổ, nên ông được cử làm tổ trưởng sản xuất (tổ trưởng nhạc), tổ trưởng Đảng, được bầu vào cấp ủy, rồi Phó Bí thư Chi bộ của hai đơn vị nghệ thuật. Cũng có người cho tác phong “quân sự” của ông là khô cứng, nhưng đó là trong công việc, còn ngoài đời, ông sống hòa đồng, thân ái, quan tâm, chia sẻ. Ông còn có năng khiếu kể chuyện và pha trò tiếu lâm, làm dịu đi những căng thẳng mỗi khi gặp khó khăn, vất vả.

Tưởng nhớ ông, tôi không sao quên được hình ảnh ông những lần ốm nặng, trong cơn mê sảng, người chiến sĩ – nghệ sĩ Tám Kèn lại hô: “Xung phong!… Tạch!.. Tạch!.. Tạch!”.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng và nghệ thuật của mình, NSƯT Nguyễn Hoài Ân được Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý: Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Huân chương Quyết thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, Huy hiệu Chiến sĩ văn hóa, Huy chương Vì sự nghiệp sân khấu, Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa…

Vào ngày 3.2 Âm lịch năm nay (tức ngày 24.2.2012), NSƯT Nguyễn Hoài Ân từ biệt cõi đời, thọ 89 tuổi. Ông ra đi nhưng âm điệu tiếng kèn, tiếng nhị của ông còn vang vọng trong lòng các thế hệ học trò nhạc công tuồng, ca kịch bài chòi ở nhiều đơn vị nghệ thuật trong cả nước từng được ông truyền dạy; trong tâm trí các đồng nghiệp và những người từng được thưởng thức ngón nghề của ông; đặc biệt là trong lòng các con ông: NSND Thu Hiền, NSƯT Hoài Huệ, NSƯT Hồ Thu – những nghệ sĩ tài hoa mà chắc chắn trong tài năng nghệ thuật hiện hữu của mình có một phần tố chất nghề nghiệp từ người cha thân yêu.

  • ĐÀO DUY KIỀN
    Nguồn: Báo Bình Định 

THƯ MỜI VIẾT BÀI CHO SỐ ” VĂN NGHỆ AN NHƠN ” KỶ NIÊM NGÀY THÀNH LẬP THỊ XÃ &37 NĂM NGÀY GP TX AN NHƠN

UBND THỊ XÃ AN NHƠN           CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 TRUNG TÂM VHTT-TT                      Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                                                                                                                                         


                                                           THƯ MỜI

                                                                                                                     

   Kính gửi: Anh, chị em hoạt động Văn hóa, văn nghệ chuyên                     

                                    và không chuyên trong và ngoài thị xã.        

                   

Chào mừng sự kiện huyện An Nhơn trở thành thị xã, và kỷ niệm lần thứ 37 ngày giải phóng thị xã An Nhơn (30/3/1975-30/3/2012);

 Được sự cho phép của lãnh đạo Thị ủy, UBND thị xã, Trung tâm Văn hóa thông tin-Thể thao phối hợp với Hội Văn học-Nghệ thuật thị xã An Nhơn sẽ xuất bản Đặc san Văn nghệ An Nhơn vào ngày 30/3 năm nay.

 1. Nội dung:

 Bài gửi cho Đặc san là những bài viết, sáng tác mới bao gồm các thể loại: truyện ngắn, thơ, hồi ký, bút ký, phóng sự, nghiên cứu-phê bình,dịch thuất. tản văn,trang thiếu nhi, ca khúc, tranh, ảnh… tập trung ca ngợi truyền thống lịch sử, tinh thần yêu nước cách mạng; quảng bá những giá trị văn hóa truyền thống; và phản ảnh sinh động những thành tựu về mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh…trong quá trình nỗ lực, phấn đấu của toàn Đảng bộ, dân và quân An Nhơn xây dựng và phát triển huyện lên tầm cao mới: trở thành thị xã theo hướng văn minh, thân thiện, hiện đại, ngày càng hội nhập và phát triển.

 2. Yêu cầu:

 Bài gửi cho Đặc san VNAN phải là những bài viết, những sáng tác mới, viết về An Nhơn chưa gửi đăng trên các sách, báo, tạp chí của trung ương hay địa phương. Bài viết có thể gởi theo mail, hay đường bưu điện – nhưng trên giấy A4, nhớ ghi rõ họ tên thật & địa chỉ * số phone ( nếu có )

 3. Thời hạn gửi bài:

 Bài vở gửi cho ĐSVNAN xin gửi về địa chỉ: Trung tâm Văn hóa thông tin-Thể thao thị xã An Nhơn, hoặc Hội Văn học-Nghệ thuật thị xã An Nhơn, số 223, Trần Phú, phường Bình Định, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Email: trungtamvhtttt_an@yahoo.com.vn từ nay cho đến cuối tháng 02 năm 2012. Chúng tôi không thể sử dụng bài gởi sau thời gian được nêu trên, vì thời gian thực hiện không dài!

 Chúng tôi rất mong nhận được sự cộng tác của anh, chị em hoạt động văn hóa, văn nghệ chuyên và không chuyên gần xa, để Đặc san VNAN lần này được xuất bản đúng thời gian, đạt được mục đích, yêu cầu đã đề ra, góp phần phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, và làm phog phú thêm đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân.

 Xin trân trọng cảm ơn!


                                   GIÁM ĐỐC

                                   Từ Văn Minh

Ngôi sao cuối cùng của “tứ đại danh ca” đã tắt

11:34′, 8/2/ 2012 (GMT+7) – Báo Bình Định
Trưa ngày 14 tháng Giêng năm Nhâm Thìn, 2012, NSƯT Ngọc Cầm đã trút hơi thở cuối ở quê nhà, hưởng thọ 85 tuổi. Ngôi sao cuối cùng của “Tứ đại danh ca” hát bội Bình Định đã tắt nhưng sự nghiệp rạng rỡ của bà với những vai diễn để đời: Liễu Nguyệt Tiêm, Lữ Bố, Địch Thanh… sẽ còn sống mãi trong công chúng yêu nghệ thuật hát bội.

 
Ngọc Cầm bắt đầu nổi tiếng với vai Lữ Bố trong tuồng “Lữ Bố hí Điêu Thuyền”. Trong ảnh: Ngọc Cầm trong vai Lữ Bố (trái) – ảnh chụp năm 1995 (Tư liệu của VŨ NGỌC LIỄN).

 

Theo cha, anh đi hát từ năm lên chín, lên mười, sân khấu và khán giả, những câu nam câu khách đã sớm ám nhập và đeo đẳng trọn đời Ngọc Cầm những vinh quang và cay đắng, đơn độc của một kiếp cầm ca. Bà đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý – Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) – cùng những danh ca một thời: Hoàng Chinh, Long Trọng, Tư Cá… Đây là những tưởng thưởng vừa đặc biệt vừa tượng trưng. Đặc biệt và tượng trưng vì danh tiếng họ quá vang dội trong hát bội Bình Định chứ không phải theo quy chuẩn thành tích thông thường.

Con nhà nòi

NSƯT Ngọc Cầm tên thật là Võ Thị Ngọc Cầm sinh năm 1927, quê An Hòa 2, Phước An, Tuy Phước. Bà là con Chánh ca Võ Đựng, và là em gái Bầu Thơm, một tài danh để đời với vai diễn không thể thay thế: Phàn Định Công trong “Sơn hậu”! Một gia đình tài danh nức tiếng của hát bội Bình Định.

Mới mười sáu, mười bảy tuổi, Ngọc Cầm đã thực sự nổi tiếng với vai Lữ Bố (trong “Lữ Bố hí Điêu Thuyền”). Vóc dáng cao, gương mặt sáng rỡ…, nói chung và các yếu tố thanh, sắc, thục, tinh, khí, thần đều hội đủ cho một khẳng định tài năng. Cũng như nhiều nghệ sĩ hát bội khác thời đó, bà rất giỏi võ. Người viết bài này từng hỏi chuyện và nghe bà kể tường tận chuyện thứ tự đánh ngã bốn thanh niên chận đường khiến “đại ca” cầm đầu nể phục để bà gánh hàng đi. Yếu tố biết võ là tiêu chuẩn đầu tiên mà thầy Đào Tấn xưa kia nhận học trò cho trường dạy nghề “Học bộ đình”. Võ giúp thực hiện được phần vũ đạo đặc chủng của nghệ thuật này đạt tới tầm tinh diệu.

Thời kỳ Ngọc Cầm bắt đầu nổi danh là thời kỳ hát bội cũng lao đao “cuộc chiến” giành khán giả với cải lương. Theo nhà nghiên cứu sân khấu Vũ Ngọc Liễn, những vở cải lương đầu tiên “chuyển thể” từ hát bội sang: “Sơn hậu”, “Phụng nghi đình” đã có chỗ đứng. Vậy là nghệ thuật này nhanh chóng xuất hiện hàng loạt các kịch bản có tính cạnh tranh mạnh: “Tái sanh kỳ ngộ”, “Cánh buồm trắng, cánh buồm đen”, “Trái tim xẻ nửa”…, những vở diễn “ăm dầm nằm dề” Trường hát Trung Hoa ở Quy Nhơn lúc đó. Hát bội “đói” dài nên các nghệ sĩ trẻ đã mạnh dạn nghĩ cách cải tổ cách hát, diễn và đã có những cuộc tranh luận nảy lửa giữa các thế hệ trước và lớp trẻ.

Ngọc Cầm lặng lẽ vào Sài Gòn xem nghệ sĩ cải lương Phùng Há diễn vai Lữ Bố. Lặng lẽ xem để học thêm cách diễn. Không chỉ tài năng và khổ luyện, Ngọc Cầm còn một phẩm chất nữa là chịu học, khao khát khẳng định mình. Tài năng giúp nghệ sĩ nhanh chóng được nhiều người biết đến. Nhưng để đạt tới một đỉnh cao, nghệ sĩ phải nỗ lực và sáng tạo lớn. Ngọc Cầm thuộc số này và bà đã có những Lữ Bố, Địch Thanh, Liễu Nguyệt Tiêm… để đời trên lộ trình tất yếu đó.

 

 
Nghệ sĩ ưu tú Ngọc Cầm.

 

Vinh quang

Trước Cách Mạng Tháng Tám, Bình Định có đến 13 Trường hát bội. Và bất kỳ đâu, chốn công cộng của làng xã hay vườn nhà, chỉ cần một ngày là đội dựng rạp chuyên nghiệp dựng xong một sân khấu cho hát diễn. Dù hát bằng “thanh” thật hay qua mi-cờ-rô, hát với ánh đèn mẻ dầu, măng-xông hay đèn điện, nghệ sĩ Ngọc Cầm cũng sáng rực trên sân khấu.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc liễn, những đêm gió nam, dù hát tận Trường Gò Bồi, từng lúc ở Vũng Bấc (Nhơn Lý) cũng nghe vọng tiếng hát của Ngọc Cầm! Bà là diễn viên đắc “sô” và luôn được các ông bầu tranh nhau mời. Tất nhiên rồi, còn nhiều đào khác cũng rất nổi tiếng nhưng đặc điểm của hát bội Bình Định là tên đào kép thường mặc định với vai diễn trong công chúng. Hát “Lữ Bố hí Điêu Thuyền” mà không có Ngọc Cầm dân không chịu. Cũng vậy, tên bà thường được đặt điều kiện khi ký hợp đồng hát “Địch Thanh ly Thợn” hay “Phụng Nghi đình”… Vai Địch Thanh còn vài kép nam sắm xuất sắc nhưng đào đóng kép giỏi như bà có cái hay riêng.

Những năm sau 1954, bà cùng các tên tuổi danh tiếng khác: Hồng Thu, Lệ Suyền, Hoàng Chinh, Long Trọng, Tư Cá… làm nên một thời kỳ vàng son mới cho hát bội Bình Định. Những đêm diễn thâu canh. Những tiếng trống chầu trống chiến, thúc giục rồn ràng xuân kỳ thu tế, những dịp hội hè. Những câu hát nam hát khách lay động. Những tiếng quân ó xa ó gần dồn vọng lớp lớp. Tất cả thường bắt đầu bằng phần “ra tuồng” tạo cảm xúc thật lớn, thật ấn tượng đến khán giả. Sân khấu đã làm được cuộc kích động cao độ sự phấn khích và mỹ cảm, và cái ngây ngất đón đợi của công chúng, roi chầu thúc, những khay thẻ “thướng” như những quầng sáng là hiệu ứng người xem đáp lại cũng tạo nhiều hưng phấn cho nghệ sĩ những phút giây xuất hóa.

Bà là một phần của “những đêm diễn” như thế. Từ nông thôn đến thành thị, trong tỉnh và ngoài tỉnh, sắm đào hay làm kép. Và làm thành “Tứ đại danh ca”, cùng các NSƯT Hoàng Chinh, Long Trọng, Tư Cá!

Sau năm 1975, NSƯT Ngọc Cầm không có nhiều đất diễn ở Nhà hát tuồng Đào Tấn, đơn vị nhà nước. Phần kịch bản mới không hợp, phần đã có thế hệ đào kép mới tài năng thay thế. Bà vẫn sống với sân khấu trong dân các huyện, xã. Và rèn dạy học trò.

Và cô đơn

Cách đây vài năm, người viết bài này có dịp nghe bà đối ca cùng ông Vũ Ngọc Liễn. Trước đây ông cũng là diễn viên nên hai người làm cái trích đoạn rất có không khí. Là theo gợi ý của ông, đoạn hồn Giả Thị về gặp Hoàng Phi Hổ trong “Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan”. Nghe bà hát câu nam rợn người: “Ái tía tỏ lời sinh tử/ Kể khôn cùng để sự thê lương”. Và câu tán: “Hồn lai phong lâm thanh phiêu phiêu hề di thế/ Giang tâm thu nguyệt bạch diếu diếu hề tương vong”. Câu này tôi nghe nhà nghiên cứu khen nhiều lần, và dịch nghĩa rằng, ‘‘hồn về rừng thông xanh chơi vơi trong cõi thế, trăng rọi lòng sông buốt hai cuộc đời tiêu tan’’. “Kể không cùng để sự…”, ừ đúng, đây là câu của hồn ma, nó vọng rợn, nó ám đến lạnh lưng.

Nói là NSƯT Ngọc Cầm được sinh ra để ca hát không phải là quá. Cũng vì thế mà bà, tuy cũng có gia đình, chồng con nhưng không phải là mẫu người phụ nữ của gia đình. Sau những hào quang những ánh đèn sân khấu, sau những phấn son và các thói quen ca kỹ, thường là một khoảng trống thật lớn. Tuổi càng cao khoảng trống càng hun hút.

Không riêng gì bà. Nhiều nghệ sĩ cải lương phía Nam trước đây có đêm thu vài cây vàng giờ cũng trắng tay, sống nhờ những giúp đỡ của bạn bè nghệ sĩ.

Hơn mười năm trước qua đề nghị của Nhà hát tuồng Đào Tấn và Sở Văn hóa, tỉnh cũng đã ưu ái tạo điều kiện cho bà có một lô đất ở Quy Nhơn. Rồi bán. Sòng sành mấy lúc lại hết veo. Đâu có lương hưu, bà sống dựa vào con cháu khi Quy Nhơn, lúc Gia Lai, và nhờ bạn bè, những người quen thân cũ, những người mến mộ. Long đong, thiếu hụt và buồn. Những tháng gần đây bà yếu hẳn và người thân đưa về lại quê nhà, trong một ngôi nhà xây tuềnh toàng. Và cuối cùng, sau ngần ấy năm đi và hát khắp vùng miền, bà về với đất ngay nơi làng quê mình.

Tôi đã làm tư liệu về bà từ cách đây mấy năm nhưng không thể viết bài. Vì không muốn tình cờ bà đọc được đoạn không thể không viết rằng, đích thực bà là người của cầm ca, và là một ngôi sao cô đơn. Cuộc sống hiu hắt cuối đời đã mỏi mệt, nghĩ không muốn để bà nặng lòng thêm.

Giờ viết như một nén hương dâng bà, một tài danh sáng chói của hát bội Bình Định. Chỉ còn vọng lại vùng hồi quang đọng hẳn trong ký ức, trong lòng người mến mộ những Liễu Nguyệt Tiêm, Lữ Bố, Địch Thanh…

Ngôi  sao cô đơn, ngôi sao sáng cuối cùng của “Tứ đại danh ca”, đã tắt!

  • LÊ HOÀI LƯƠNG

Hương Sơn cố sự, một tấm lòng với tiền nhân

Nhà nghiên cứu Lộc Xuyên Đặng Quí Địch vừa cho ra mắt cuốn sách mới Hương Sơn cố sự (NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội 2008), viết về các gương mặt trong sĩ lâm Bình Định cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong một hoàn cảnh nhuôm nhoam của văn nghệ, ông vẫn lặng lẽ đi con đường khảo cứu di sản tiền nhân, đem lại cho người đọc hôm nay một cái nhìn khám phá, phát hiện lại những giá trị hòng tránh sự mai một. Quả thật, đó là tấm lòng không thể phủ nhận của người thuộc lớp hậu sinh với các bậc tiền bối của mảnh đất Bình Định địa linh nhân kiệt.

Hương Sơn là tên chữ của núi Thơm (Cảnh Vân, Phước Thành, Tuy Phước), là di tích gắn với lịch sử phong trào Cần Vương Bình Định cuối thế kỷ XIX với các ông Tú Cả (Trần Hữu Nham), Thống Bin (Trương Đình Bin), Đốc Trưng (Huỳnh Trưng) tụ nghĩa năm 1886 dưới quyền của Nguyên soái Mai Xuân Thưởng. Lộc Xuyên Đặng Quí Địch đã chọn hình thức giai thoại để “ôn cố” những sự tích liên quan đến dòng họ Trần ở thôn Cảnh Vân, một dòng họ đã phát huy truyền thống yêu nước từ đời cụ Tú Cả, nổi tiếng hiếu học, có những đóng góp phát triển văn hoá địa phương. Người đọc qua những mẩu chuyện này, có thể hiểu thêm về hoạt động Cần Vương của Mai nguyên soái, khám phá những nét đặc sắc về các nhân vật làng Nho Bình Định nổi danh một thời như cử nhân Bùi Tuyển, tú tài Trần Hữu Nham, tú tài Trần Trọng Giải, cử nhân Trần Đình Tân…cũng như các hoạt động văn hoá ở Bình Định đầu thế kỷ XX. Người viết đã có cả một quá trình khảo cứu, ghi chép tư liệu công phu, phiên dịch các văn bản chữ Hán còn lưu trữ được trong con cháu họ Trần, ít nhiều đã thực hiện được mục đích phổ biến văn hoá đến mọi người, giúp thêm những cứ liệu tin cậy cho những nhà nghiên cứu lịch sử, văn chương tỉnh nhà.

Trong 12 câu chuyện được kể lại, người viết đã tỏ ra quan tâm đặc biệt và đánh giá cao vai trò của cụ tú tài Trần Trọng Giải, con của cụ Tú Cả, qua 8 giai thoại có liên quan. Đây là một nhân vật xứng đáng được ghi vào danh sách các nhân vật làm rạng danh lịch sử văn hoá Bình Định, với những hoạt động xã hội trên nhiều lĩnh vực có ảnh hưởng với đương thời và mai hậu. Cụ là một nhà Nho vừa có tư tưởng canh tân, vừa có ý thức phát huy bản sắc văn hoá quê hương: tham gia lập Phước An thương hội – do các nhà Nho đảm đương kinh doanh, lập đoàn hát bội đi khắp nơi quyên góp cứu tế đồng bào bị bão lụt, trùng tu tôn tạo văn chỉ thành Bình Định…Người đọc có thể cảm nhận một nhà văn hoá đích thực, một nhà thơ có tâm hồn phóng khoáng và một tấm gương sáng về tinh thần cống hiến không vụ lợi, hết lòng vì gia tộc, bằng hữu. Ngoài ra, người đọc còn được biết những câu chuyện thú vị về chùa Eo Mén, chùa Hương Sơn gắn với lòng cô trung kín đáo của những người yêu nước hướng về phong trào Cần Vương, các sinh hoạt tao nhã đã thất truyền như thiện đàn cầu tiên, quá trình khai khẩn đem lại phúc lợi cho dân địa phương của ông Hương bộ Cảnh Vân, tấm gương học tập nghiên cứu của ông cử Trần Đình Tân. Một mảng tư liệu phong phú về đối liễn, văn tế hết sức tài hoa cũng đã được phiên dịch công phu.

Đọc Hương Sơn cố sự của Lộc Xuyên Đặng Quí Địch, chúng ta càng trân trọng tấm lòng với tiền nhân của soạn giả. Những câu chuyện trong sách được ông biên soạn xong từ rất lâu, năm 1992 nhưng mãi đến giờ, sang năm 2008 mới được xuất bản khiến cho người viết bài này không khỏi băn khoăn tiếc nuối và thêm cảm phục cho sự kiên trì của tác giả. Những điều ông tâm sự trong một lá thư  vào tháng 3.2008 khiến chúng ta cảm thấy ngậm ngùi: “Những năm sau đó, tôi cố tìm phương tiện để xuất bản sách nhằm mục đích phổ biến văn hoá nhưng chưa gặp. May thay, tháng 10 năm 2007 tôi được giải thưởng văn học nghệ thuật Đào Tấn – Xuân Diệu kỳ III 2000 – 2005, hạng A, tôi liền hợp tác với nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc tại Hà Nội mà xuất bản Hương Sơn cố sự…”. Giá như cuốn sách có sự quan tâm hỗ trợ xuất bản sớm hơn của Hội Văn học Nghệ thuật mà ông là hội viên thì đã đến với bạn đọc kịp thời hơn. Và biết đâu, Hương Sơn sẽ được lưu tâm giữ lại như một di tích văn hoá – lịch sử, không bị phá tan nát để xuất khẩu đá! Mười sáu năm chờ đợi của một nhà nghiên cứu để ra đời được đứa con tinh thần của mình một cách lặng lẽ là quá dài. Năm nay, Lộc Xuyên đã qua tuổi “thất thập cổ lai hi”, và thông tin mới nhất sau khi đón cuốn sách ra đời, ông đang phải chật vật đối mặt với bệnh tật, lặng lẽ ở một góc khuất thị trấn Bồng Sơn. Được biết, ông còn dự định xuất bản cho hàng loạt những công trình biên khảo, nhưng liệu thời gian có kịp cho ông? Chẳng lẽ bao di sản ấy lại phải chờ một dịp may nữa hay sao?

Trần Hà Nam

+ Đặng Quí Địch hiện ở 125 Quang Trung, Bồng Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định – ĐT: 0563-761155. Đã xuất bản các công trình biên khảo, phiên dịch chú giải: Nhân vật Bình Định (1971) Mai Viên cố sự (1994), Cố sự Quỳnh Lâm I (1998), Đào Duy Từ Khảo biện (1998), Hương Sơn cố sự (2008) và còn khoảng hơn 20 công trình đã soạn xong nhưng chưa xuất bản được.

Cá dữ lại tấn công 2 người tắm biển Quy Nhơn

TTO – Vào lúc 6g sáng ngày 19-5, tại bờ biển đoạn khách sạn Hoàng Yến, phường Nguyễn Văn Cừ, TP Quy Nhơn (Bình Định), hai người phụ nữ tắm biển bị cá dữ tấn công vào bắp chân và mu bàn chân trái. Cả hai phải nhập viện cấp cứu tại Bệnh viện Quân y 13.

Vết thương bà Tánh tại phòng mổ

Bà Trương Thị Tánh, 60 tuổi, trú phường Ghềnh Ráng cho biết: “Khoảng 5g30 sáng nay, tôi và 3 người bạn cùng xóm rủ nhau ra tắm biển, tắm được khoảng 30 phút và bơi ra cách bờ biển khoảng 15 mét thì bị cá tấn công vào cổ chân và mu bàn chân trái. Hoảng loạn, tôi la lên nên được một anh bộ đội đưa vào bờ. Vết thương bị chảy máu nhiều. Giờ mổ xong khâu lại tôi vẫn chưa hết bàng hoàng”.

Nằm tại khoa hồi sức cấp cứu, bà Nguyễn Thị Thu Thảo, 52 tuổi, trú tại khu vực 4, phường Nguyễn Văn Cừ, kể lại: “Sau khi cá cắn bà Tánh, tôi cũng bơi theo vào và cũng bị cá cắn cách bờ khoảng 5m”.

Hiện hai nạn nhân bị cá cắn đang nằm điều trị tại Bệnh viện Quân y 13.

XUÂN VINH

Bình Định: Hàng ngàn hecta lúa có nguy cơ mất trắng vì cắt điện

11:23 | 08/05/2010
 
 Ở Bình Định, lúa vụ hè đã xuống giống khoảng chừng 1 tháng nhưng gặp phải nhiều đợt nắng nóng nên rất “khát” nước. Một số lượng lớn diện tích lúa sử dụng nước trạm bơm đang có nguy cơ mất trắng vì lịch cắt điện ở nông thôn ngày càng nhiều.

Ông Cao Thiên Bình, Chủ nhiệm HTX nông nghiệp Nhơn Phong (An Nhơn-Bình Định) cho biết: HTX Nhơn Phong có 510 ha đất sản xuất lúa thì có 120 ha sử dụng nước trạm bơm. Khi bắt đầu thực hiện lịch cắt điện luân phiên, ở Nhơn Phong mỗi tuần cắt điện 2 ngày, từ 7 giờ đến 19 giờ. Gần nửa tháng nay, ngành điện lại cắt thêm 2 tiếng/ngày nên tình hình càng nghiêm trọng hơn. Những ngày không bị cắt điện thì đến 7 giờ sáng mới khởi động bơm tưới được, chỉ được vài tiếng đồng hồ thì đã vào giờ cao điểm buổi trưa, phải dừng bơm. Buổi chiều cũng chỉ nổ máy được vài tiếng lại chạm giờ cao điểm buổi tối, lại dừng. Nếu cứ bơm vài tiếng rồi nghỉ thì nước chỉ đủ thấm những vùng gần trạm bơm, chưa kịp chảy đến những vùng xa. Dưới cái nắng nóng gay gắt, các trạm bơm chỉ hoạt động cầm chừng nên 120 ha lúa hè đang gặp rất nhiều khó khăn.

Tại địa phương có 100% diện tích đất sản xuất nông nghiệp phải dùng nước trạm bơm điện như xã Nhơn Hậu (huyện An Nhơn) lại càng khó khăn hơn. Ông Lê Ngọc Anh, Chủ nhiệm HTX NN Nhơn Hậu cho biết: Những lúc thiếu nước trầm trọng quá, chúng tôi đành cho bơm cả trong giờ cao điểm, chấp nhận trả giá điện 1.500đ/kWh. Mỗi trạm bơm đều bố trí từ 2 máy trở lên, máy có công suất lớn nên hiện HTX đang là con nợ lớn của ngành điện. Mặc dù tỉnh, huyện đã có văn bản chỉ đạo ngành điện chậm đòi nợ các trạm bơm phục vụ sản xuất nông nghiệp nhưng nợ nhiều, nợ dài họ cũng không chấp nhận. Theo ông Lê Bá Tư, Chủ nhiệm HTX NN Nhơn Khánh (huyện An Nhơn), để đảm bảo nước tưới cho 520 ha đất canh tác của xã viên, HTX đã xây dựng 8 trạm bơm với tổng công suất 840 kW. Với lịch cắt điện như hiện nay, hầu hết các trạm bơm đang phải hoạt động cầm chừng trong khi ruộng đồng thiếu nước phục vụ sản xuất./.

 
(Theo TTXVN)

VỀ BÌNH ĐỊNH -Nguyễn Minh Quang

                               Tôi về Bình Định chiều mưa

                             Mưa chi cho lắm người xưa đi rồi

                             Ai làm nỗi nhớ vỡ đôi

                             Nỗi buồn vỡ vụn mẹ ngồi mân mê

                             Tôi về Bình Định đồng quê

                             Thương sao cây lúa đang chờ mùa rơi

                             Đường thôn lại vắng bóng người

                             Bạn thời để chỏm hết rồi còn đâu

                             Tôi về Bình Định bạc đầu

                             Chìm trong quên lãng bờ đau thương người

                             Bao nhiêu chua xót để đời

                             Ngậm ngùi luyến tiếc một thời tuổi xuân

                             Tôi về Bình Định lặng thầm

                             Trải bao cung bậc thăng trầm xót xa

                             Người ta lại phụ người ta

                             Nỡ sao quên hẳn thật thà ngày xưa !

Tản văn Huỳnh Kim Bửu

Cày đồng

 

(Cày đồng dưới buổi ban trưa / Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày – Ca dao).

 

Bây giờ ở nhiều vùng nông thôn, đã thấy vắng bóng cảnh cày bừa bằng sức con trâu con bò. Không chừng mươi năm nữa, cảnh này sẽ biến mất hẳn, đâu đâu cũng thấy người ta cày bừa bằng máy, bằng sức con trâu sắt của thời hiện đại. Nghĩ vậy mà tôi viết bài này để ghi chép lại một chuyện cũ:  “Cày bừa vốn nghiệp nông gia / Ta đây trâu đấy dám mà quản công” (Ca dao).

 

Đó là cảnh diễn ra từ mấy ngàn năm nay, nó cũ kỹ đến phải có một thành ngữ: “Con trâu đi trước cái cày theo sau” để nói về nguyên nhân và hệ quả của sự chậm phát triển của một nền nông nghiệp, một nền kinh tế. Nhưng rồi vì cuộc sống, vì thói quen, người ta vẫn phải yêu mến nghề nông và cảnh con trâu cày ruộng.

Khi đồng ruộng vừa gặt hái xong thì công việc tiếp theo là cày bừa. Gặt hái với cày bừa đi liền nhau để cho mùa nối mùa, đem lại sự no đủ quanh năm cho con người. Quê tôi năm có hai mùa làm ruộng: mùa tháng ba và mùa tháng mười. Vậy thì năm có hai lần cày bừa: một vào tháng ba, một vào tháng mười.

Cách đây mấy mươi năm, lũ chúng tôi là những cậu học sinh trường làng, rồi lên trường tổng, trường phủ học. Trên đường đi học, băng qua mấy nẻo đường làng, mấy cánh đồng làng nối tiếp nhau, có bao cảnh vật quyến rủ tâm hồn non trẻ của chúng tôi. Khi thì chúng tôi đắm say một cảnh ban mai mọc lên mặt trời rực rỡ cùng lảnh lót tiếng chim ca trên lũy tre làng, hôm mê hồn bởi sắc cầu vồng hiện lên nơi phía chân trời cùng đàn trâu gặm cỏ trên đê… Lắm khi, chúng tôi đứng mãi không muốn dời bước chân trong cảnh trời chiều bởi say ngắm một cảnh cày bừa nhộn nhịp, hoặc một cảnh ruộng nước trắng xóa mênh mông cộng thêm đàn cò trắng đậu…

Vì đã học hết cuốn Quốc văn giáo khoa thư, những cậu học trò trường Phủ chúng tôi biết rằng, đó mình đã khéo thi vị hóa cảnh cày bừa, chứ thực ra việc cày bừa, cũng như bao việc khác của nhà nông, là nặng nhọc lắm. Cày đồng trong tiết tháng ba thì trên nắng dưới nước, trong tiết tháng mười mưa bay gió vãi, cái rét như dao cắt thịt da. Mà cày bừa trong tiết nào thì cũng là cảnh nông dân chân lấm tay bùn, mổ hôi trộn nước mắt: “Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” (Ca dao).

Trong các làng quê hồi xưa, có ông thợ cày bên cạnh bà thợ cấy, chị thợ gặt… Thợ cày có người là nông dân, chủ vài sào ruộng, nuôi đôi con bò kiêm nghề cày ruộng để khỏi phải thuê mướn: “Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”. Nhưng bên cạnh đó còn có những thợ cày chuyên kiếm sống bằng nghề cày thuê. Phần lớn, họ nghèo khổ, không có ruộng, cũng không có con trâu, cái cày cái bừa. Có người vào nhà ông phú hộ, ông chủ ruộng từ thuở bé con, tóc cạo nhẵn để miếng vá trên đầu rồi ở mãi đó, như thế cho kịp đi từ chú bé chăn trâu “tiến” lên anh thợ cày ruộng cho chủ nhà. Thợ cày giỏi là anh thợ cày sâu (Cày sâu cuốc bẩm) cày không lỏi, lật vỉa cày sát góc ruộng; đến khi bừa thì băm cắt kỹ, ban bằng, nhìn suốt đám ruộng thấy bằng hấn, phẳng lỳ, không chỗ ngập nước chỗ bày khô. Anh cũng là người làm lụng có năng suất cao, cày già buổi thì xong một sào ruộng sâu, non buổi – một sào ruộng cạn. Không phải hiếm anh thợ cày có duyên may, được ông chủ ruộng chọn thằng con trai biết làm ăn, bất luận giàu nghèo, gả cô con gái cưng, cho anh làm con rể chí nguyện.

Quê tôi thuộc vùng đông Phủ An, xa hòn An Tượng ở phía Nam mà cũng xa núi Bà phía Bắc, cho nên hiếm có cây gỗ mộc. Mỗi năm một lần, vào tháng ba, tháng tư cày cấy xong, nông dân rủ nhau vào An Tượng đẵn gỗ, đẽo cày ở trong đó…Ở lại trong núi mấy ngày đêm, nghe cọp gầm, vượn hú và ăn hết gạo mắm dỡ theo, thì xong công việc, đoàn người vác cày mới đẽo ra về với nước gỗ còn tươi, mùi gỗ còn thơm. Đó là chưa nói, bên cạnh nông dân còn có những người thợ đẽo cày chuyên nghiệp kiếm sống. Quanh năm, trừ lúc “nông vụ tấn thời” (lo ruộng đất) những thợ này ở trong núi, nhiều hơn ở nhà. Người ta hạ cây, đẽo cày, rồi đem về bán sỉ và bán lẻ ở các chợ quê trong vùng. Thợ đẽo cày, nhiều người bị con mắt lác, vì anh ta ngắm nhiều: ngắm cái cây thẳng đứng trong rừng để chọn, ngắm cái bắp cày đang đẽo để xem nó đã thẳng, đã thon chưa. Lựa được cây gỗ chắc như gỗ trâm, xay làm cày thì cái cày bền, cày lâu trạnh cày, bắp cày, ách cày lên nước bóng láng, sờ vào nhẵn thín, mát tay, không hề sợ dằm đâm.

Không ai yêu trâu bò bằng cha con, vợ chồng gia đình nông dân. Nông dân vẫn coi con trâu, bò là tài sản quý giá nhất của mình: “Con trâu là đầu cơ nghiệp” (Tục ngữ) con trâu bò là bạn đồng cam cộng khổ và cùng chung ước mơ hy vọng với mình: “Trâu ơi ta bảo trâu này / Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta / Cấy cày vốn nghiệp nông gia / Ta đây trâu đó dám mà quản công / Bao giờ cây lúa còn bông / Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn” (Ca dao). Trong gia đình nông dân, cha cày xong đám ruộng, giao thằng con trai út chăn dắt trâu, xẩm tối về có vợ hun muỗi bắt mòng cho trâu ngủ, bỏ rơm cỏ cho trâu ăn…Gặp thời tao loạn, nông dân không yên giấc ngủ, vì phải thức để canh chừng thằng ăn trộm lẻn vào, tháo nhẹ cổng chuồng, lừa con trâu đi mất lúc đêm hôm.

Ở chợ Phủ – Gò Chàm, có chợ Gia súc mở trên đường lên ga xe lửa Bình Định. Dân trong vùng không gọi đúng tên chợ mà cứ gọi nôm na là chợ Bò. Chợ Bò họp tháng 6 phiên, trùng phiên chợ Gò Chàm. Ai cần con bê, con nghé lanh lợi đem về nuôi, con trâu bò đực sức đem về cày, cứ đợi tới ngày phiên chợ Bò. Trâu bò cả trong vùng phủ An, thêm Vĩnh Thạnh, Bình Khê (nay là Tây Sơn)… đem tới đó bán, không thiếu con tướng tốt cho khách hàng mặc sức chọn. Tướng con trâu, con bò cày tốt là tướng khỏe, lông mượt, chân cao, đuôi dài tới đất, thịt bắp vai u…Trái lại là tướng xấu, đem về nuôi thì nó chỉ là thứ vô tích sự: “dựa bắp cày ăn rơm” (Câu nói dân gian).

Cày ruộng tuy khổ nhưng lại là chuyện căn cơ, cho nên người quê tôi bao đời vẫn chọn làm nghề nông, làm nông dân. Ai theo đuổi việc gì, đi làm gì, tâm chí hoài bão gởi đâu đâu mà chẳng may mộng cao tài thấp, công không thành, danh không toại, thì giống nhau một nguyện vọng sau cùng là: “Trở về làng cũ học cày cho xong” (Ca dao). Ai giấu cái tài để đợi thời, đợi buổi đời biết “chiêu hiền đãi sĩ” mà ra giúp đời thì bắt chước ông Y Doãn, Phó Duyệt mang áo tơi đội nón lá đi cày ruộng, gánh đất ở ngoài đồng.

Người xưa xếp việc đi cày trong các cái thú của đời người: Ngư, tiều, canh, độc. Chẳng biết vì cớ sao, người ta vẫn thích ví nghề văn với nghề cày ruộng? Chỉ nói thêm một chút: nhà văn thì cày trên trang giấy, trên cánh đồng chữ nghĩa, còn nhà nông thì cày trên ruộng sâu ruộng cạn, trên cánh đồng mỗi năm cho mấy mùa vàng.

H. K. B